Sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 07
Thái Văn Nhàn
2026-05-03T20:45:22-04:00
2026-05-03T20:45:22-04:00
https://cdcnghean.vn/chuyen-mon/phong-chong-hiv-aids/so-ket-5-nam-thuc-hien-chi-thi-07-704.html
/themes/default/images/no_image.gif
Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật Nghệ An
https://cdcnghean.vn/uploads/text-07.png
Chủ nhật - 03/05/2026 20:45
BÁO CÁO
Sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW, ngày 06/7/2021 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường lãnh đạo công tác phòng chống HIV/AIDS, tiến tới chấm dứt dịch bệnh AIDS tại Việt Nam trước năm 2030
ĐẢNG BỘ CHÍNH PHỦ
ĐẢNG ỦY BỘ Y TẾ
* |
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
|
| Số -BC/ĐU |
Hà Nội, ngày tháng năm 2026
|
BÁO CÁO
Sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW, ngày 06/7/2021 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường lãnh đạo công tác phòng chống HIV/AIDS, tiến tới chấm dứt dịch bệnh AIDS tại Việt Nam trước năm 2030
------
Kính gửi: Đảng ủy Chính phủ
(qua Ban Tuyên giáo và Dân vận)
PHẦN THỨ NHẤT
Bối cảnh quốc tế, trong nước và công tác triển khai thực hiện
Chỉ thị số 07-CT/TW, ngày 06/7/2021 của Ban Bí thư
I. Thực trạng dịch bệnh HIV/AIDS trên Thế giới và tại Việt Nam
Từ khi ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện tại thành phố Hồ Chí Minh năm 1990, đến hết năm 2025, cả nước ghi nhận 253.966 người nhiễm HIV còn sống và tổng số người nhiễm HIV tử vong lũy tích là 117.746 người.
Theo số liệu giám sát, số trường hợp nhiễm HIV phát hiện mới từng năm giảm từ 19.784 ca (2010) còn 10.211 ca (2019), nhưng từ năm 2020 đến nay lại có xu hướng tăng, trung bình khoảng 11.000-13.000 ca/năm. Năm 2025, có 9.946 ca nhiễm HIV được phát hiện mới và 1.742 ca nhiễm HIV tử vong.
Trong giai đoạn 2021-2025, số liệu giám sát dịch HIV cho thấy: Lây truyền HIV qua đường tình dục chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt đỉnh 82,8% (2022) và ở mức 60,3% năm 2025. Lây truyền qua đường máu giảm từ 29,5% (2021) còn 25,2% (2025). Lây truyền HIV từ mẹ sang con duy trì ở mức thấp, giảm từ 3,2% (2011) xuống 2,8% (2025). Trong tổng số các ca nhiễm HIV/AIDS phát hiện năm 2025, khu vực Đông Nam Bộ có chiếm tỷ lệ cao nhất (39,3%), tiếp theo là TP. Hồ Chí Minh (30,8%) và Đồng bằng sông Cửu Long (30.8%), Đồng bằng sông Hồng (10.2%) và miền núi phía Bắc (8,3%). Về giới, nam giới chiếm phần lớn các trường hợp nhiễm HIV mới phát hiện, từ năm 2018 luôn trên 70% và đạt 83,1% vào năm 2025. Theo độ tuổi, nhóm 16–29 và 30–39 tuổi chiếm trên 70% số trường hợp nhiễm HIV được báo cáo, trong đó nhóm 16–29 tuổi có dấu hiệu tăng từ 33% (2017) lên 46,7% (2023), nhưng giảm còn 41,4% năm 2025.
II. Việc phổ biến, quán triệt, tuyên truyền và tổ chức thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW
1. Việc phổ biến, quán triệt, tuyên truyền Chỉ thị số 07-CT/TW
Kể từ khi Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị 07-CT/TW, Bộ Y tế ban hành Kế hoạch số 05/KH - BCSĐ ngày 18/01/2022 về thực hiện Chỉ thị số 07- CT/TW ngày 06/7/2021 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS, tiến tới chấm dứt dịch bệnh AIDS tại Việt Nam trước năm 2030.
Công tác phổ biến, quán triệt, tuyên truyền Chỉ thị số 07-CT/TW được thực hiện tích cực. Chỉ thị số 07-CT/TW được đăng tải dự thảo Chỉ thị trên trang thông tin điện tử của Bộ Y tế, Cục Phòng bệnh và các phương tiện thông tin đại chúng. Bộ Y tế phối hợp với Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đã tổ chức 02 hội thảo (tại Cần Thơ và Thanh Hóa) để phổ biến triển khai Chỉ thị số 07-CT/TW về tăng cường lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS, tiến tới chấm dứt dịch bệnh AIDS tại Việt Nam trước năm 2030. Hội thảo có sự tham gia của đại diện lãnh đạo Ban tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Sở Y tế, Sở Công an và các Sở/ban/ngành liên quan tại các tỉnh, thành phố trong cả nước. Hội thảo đã phổ biến, quán triệt các nội dung của Chỉ thị số 07-CT/TW và các giải pháp phòng, chống HIV/AIDS; đồng thời đề nghị các cấp Đảng ủy, chính quyền, địa phương đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền về mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS tại Việt Nam trước năm 2030.
- Trong giai đoạn từ năm 2021-2025, hằng năm Bộ Y tế đều ban hành văn bản gửi Ban chỉ đạo phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm các Bộ, ngành, đoàn thể trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Hướng dẫn triển khai Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS và ngày Thế giới phòng, chống HIV/AIDS[1], [2], [3], [4], [5].
- Các bộ, ngành khác: Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Giáo dục và đào tạo đều có Kế hoạch phối hợp Bộ Y tế triển khai các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS hằng năm[6].
2. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện, kiểm tra, giám sát việc thực hiện và sơ kết Chỉ thị số 07-CT/TW
2.1. Việc thể chế hóa các nội dung Chỉ thị số 07-CT/TW (chi tiết theo Biểu mẫu)
- Bộ Y tế đã tham mưu trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 03 Nghị định[7],[8],[9], 02 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ[10]. Ban hành 08 Thông tư[11] của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn thi hành 01 số điều của Luật, Nghị định về phòng, chống HIV/AIDS.
Bên cạnh đó Bộ Y tế đã tham gia xây dựng 02 Dự án: Tăng cường đáp ứng y tế trong phòng, chống ma túy thuộc Chương trình Mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030 do Bộ Công an chủ trì đã được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 163/2024/QH15 ngày 27/11/2024 về việc phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030 và Dự án Nâng cao hiệu quả hệ thống phòng bệnh và nâng cao sức khỏe thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035 đã được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 262/2025/QH15 ngày 11/12/2025.
2.2. Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW
Cục Phòng bệnh đã phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức 03 chuyến kiểm tra thực hiện Chỉ thị 07-CT/TW tại Bình Định, Hải Phòng và Lâm Đồng. Đoàn công tác có đại diện Lãnh đạo của Ban Tuyên giáo Trung ương, Vụ Xã hội, Ban Tuyên giáo Trung ương, Vụ Khoa giáo văn xã, Văn phòng Chính phủ, Cục Y tế - Bộ Công an, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Sau các chuyến kiểm tra, giám sát, đoàn công tác ghi nhận các khuyến nghị từ các đơn vị, làm cơ sở để xây dựng kế hoạch thực hiện giai đoạn tới, đồng thời, giải đáp và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc khi triển khai công tác phòng, chống HIV/AIDS tại địa phương.
PHẦN THỨ HAI
Kết quả thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW
I. Những kết quả chủ yếu đã đạt được trong thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW
1. Về nâng cao nhận thức về trách nhiệm của các cấp uỷ, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng chống HIV/AIDS
Qua quá trình triển khai thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS trong tình hình mới, nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp đã có nhiều chuyển biến tích cực. Công tác phòng, chống HIV/AIDS được xác định là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên và lâu dài; được đưa vào chương trình, kế hoạch công tác hằng năm của các Bộ, ban ngành, địa phương, đơn vị. Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy được tăng cường; trách nhiệm quản lý nhà nước của chính quyền các cấp được cụ thể hóa bằng kế hoạch hành động, phân công nhiệm vụ rõ ràng. Sự phối hợp liên ngành giữa y tế, lao động – thương binh và xã hội, công an, giáo dục, đoàn thể chính trị – xã hội được củng cố; lồng ghép nội dung phòng, chống HIV/AIDS vào các chương trình phát triển kinh tế – xã hội. Công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết được quan tâm hơn; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong triển khai thực hiện. Nhờ đó, hệ thống chính trị từng bước vào cuộc đồng bộ, góp phần kiểm soát dịch HIV/AIDS trên địa bàn.
Cùng với sự chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền, nhận thức của Nhân dân và cộng đồng về HIV/AIDS đã có nhiều chuyển biến tích cực: Hiểu biết về đường lây truyền, biện pháp dự phòng (quan hệ tình dục an toàn, sử dụng bao cao su, điều trị ARV, dự phòng trước phơi nhiễm HIV bằng thuốc kháng HIV – PrEP…) được nâng cao. Người dân chủ động tiếp cận các dịch vụ tư vấn, xét nghiệm HIV; giảm tâm lý e ngại, né tránh. Kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV từng bước được giảm thiểu; nhiều mô hình hỗ trợ cộng đồng, nhóm tự lực của người sống chung với HIV được duy trì và phát triển. Sự tham gia của các tổ chức xã hội, tổ chức dựa vào cộng đồng (CBO), nhóm đồng đẳng ngày càng hiệu quả, góp phần tiếp cận các nhóm nguy cơ cao. Nhìn chung, công tác truyền thông đã góp phần thay đổi hành vi, tạo môi trường xã hội thuận lợi cho hoạt động phòng, chống HIV/AIDS, hướng tới mục tiêu chấm dứt dịch AIDS vào năm 2030.
2. Về tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng chống HIV/AIDS
Thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể đã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS với nhiều hoạt động cụ thể, đồng bộ:
2.1. Công tác ban hành văn bản, phối hợp liên ngành
Ban hành kế hoạch, chương trình hành động thực hiện Chỉ thị gắn với Chiến lược quốc gia chấm dứt dịch bệnh AIDS đến năm 2030.
Công tác hoạt động của Uỷ ban quốc gia phòng, chống AIDS, ma túy, mại dâm: Khi có biến động về nhân sự, Ban Chỉ đạo phòng, chống AIDS, ma tuý, mại dâm của Bộ Y tế được kiện toàn kịp thời[12]. Hằng năm, Ban Chỉ đạo phòng, chống AIDS, ma tuý, mại dâm của Bộ Y tế tham mưu Uỷ ban Quốc gia phòng, chống AIDS, ma tuý, mại dâm ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình công tác năm. Trong đó, hướng dẫn các tỉnh, thành phố triển khai thực hiện Tháng cao điểm dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con[13], Tháng hành động phòng, chống ma túy trong ngành Y tế[14], Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS và Ngày Thế giới phòng chống AIDS 1/12.
Công tác phối hợp liên ngành
- Bộ Y tế có công văn số 3964/BYT-AIDS ngày 14/5/2021 gửi Bộ Giáo dục và đào tạo về tăng cường chỉ đạo phòng, chống HIV/AIDS trong trường học. Hằng năm, Cục Phòng, chống HIV/AIDS và Vụ Giáo dục Chính trị và công tác học sinh, sinh viên có Kế hoạch phối hợp thực hiện và triển khai các mô hình cung cấp các dịch vụ phòng chống HIV/AIDS tại một số trường: Đại học Hàng hải Hải Phòng, Đại học Cần Thơ.
Bộ Y tế có công văn số 3965/BYT-AIDS ngày 14/5/2021 gửi Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về tăng cường chỉ đạo phòng, chống HIV/AIDS tại các khu công nghiệp. Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam có Kế hoạch số 190/KH-TLĐ ngày 08/4/2022 về triển khai các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS trong công nhân, viên chức, người lao động. Cục Phòng, chống HIV/AIDS đã phối hợp với Ban Tuyên giáo, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam tổ chức hội thảo về phòng, chống HIV/AIDS cho cán bộ liên đoàn cấp tỉnh, huyện, cán bộ công đoàn các công ty thuộc các khu công nghiệp tại Tp. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Thái Nguyên, Bình Dương, Long An và triển khai các mô hình cung cấp các dịch vụ phòng chống HIV/AIDS tại khu công nghiệp Samsung Thái Nguyên.
Cục Phòng bệnh có công văn số 222/AIDS-DP ngày 06/3/2024 gửi Ban Đoàn kết tập hợp thanh niên Trung ương Đoàn và Thường trực Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam về việc phối hợp truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS trên kênh truyền thông của Trung ương Đoàn TNCS HCM, có 20 bài truyền thông về phòng chống HIV/AIDS được đăng tải trên website thanhgiong.vn và facebook của Trung ương Đoàn.
3. Về tổ chức thực hiện công tác phòng chống HIV/AIDS
Công tác hoàn thiện thể chế, chính sách về phòng, chống HIV/AIDS tiếp tục được quan tâm, tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho tổ chức thực hiện: Tổ chức triển khai nghiêm túc Luật Phòng, chống HIV/AIDS, Luật Phòng, chống HIV/AIDS sửa đổi và các văn bản Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành; kịp thời rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm phù hợp với tình hình dịch và các cam kết quốc tế. Ban hành cơ chế, chính sách thúc đẩy bao phủ dự phòng, phát hiện sớm, điều trị kịp thời HIV/AIDS và thúc đẩy việc tham gia bảo hiểm y tế của người nhiễm HIV hướng tới tăng tiếp cận dịch vụ về phòng, chống HIV/AIDS cho người dân. Xây dựng chính sách giảm kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV, người bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS và người có hành vi nguy cơ cao lây nhiễm HIV; bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ y tế, lao động, học tập và an sinh xã hội. Tăng cường sự hỗ trợ của gia đình, xã hội với người nhiễm HIV, tạo điều kiện để người nhiễm HIV và thành viên gia đình họ tham gia các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS.
Nhìn chung, hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách ngày càng tiệm cận với mục tiêu kiểm soát dịch bền vững và bảo đảm quyền con người trong phòng, chống HIV/AIDS.
Công tác xây dựng kế hoạch:
Cục Phòng bệnh (trước đây là Cục Phòng, chống HIV/AIDS) đã ban hành 08 Kế hoạch[15][16][17][18][19][20][21][22][23][24] nhằm hướng dẫn các tỉnh, thành phố thực hiện các hoạt động về phòng, chống HIV/AIDS bao gồm: cải cách thủ tục hành chính, kiểm tra giám sát và các kế hoạch thực hiện nhiệm vụ chuyên môn.
Công tác xây dựng hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật:
Trong giai đoạn 2021-2025, Bộ Y tế đã ban hành được 03 hướng dẫn chuyên môn, kỹ thuật về dự phòng lây nhiễm HIV, giám sát, xét nghiệm HIV, chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS bao gồm: (1) Quyết định số 2834/QĐ-BYT ngày 09/6/2021 về việc ban hành hướng dẫn thực hiện xét nghiệm phát hiện nhiễm mới HIV và sử dụng số liệu xét nghiệm phát hiện nhiễm mới HIV trong phòng chống HIV/AIDS; (2) Quyết định số 5968/QĐ-BYT ngày 31/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Hướng dẫn điều trị và chăm sóc HIV/AIDS; (3) Quyết định số 4066/QĐ-BYT ngày 31/12/2024 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Hướng dẫn điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone.
Thêm vào đó, Cục Phòng bệnh đã triển khai thực hiện các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS như giám sát trọng điểm[25], ước tính quần thể nguy cơ cao và tình hình dịch[26], triển khai các mô hình “Đội truyền thông phòng, chống HIV/AIDS cho sinh viên trong các trường đại học”[27], Mô hình nâng cao chất lượng dịch vụ phòng chống HIV (CAB).
Xây dựng các chương trình, đề án, kế hoạch triển khai công tác phòng chống HIV/AIDS ở Trung ương và địa phương.
Bộ Y tế tiếp tục triển khai các hoạt động nhằm hướng tới Chiến lược quốc gia chấm dứt dịch bệnh AIDS đến năm 2030[28] và thực hiện Kế hoạch đánh giá giữa kỳ thực hiện Chiến lược quốc gia chấm dứt dịch bệnh AIDS[29].
Bên cạnh đó, Bộ Y tế đã tham gia xây dựng 02 Dự án: Tăng cường đáp ứng y tế trong phòng, chống ma túy thuộc Chương trình Mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030 do Bộ Công an chủ trì đã được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 163/2024/QH15 ngày 27/11/2024 về việc phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030 và Dự án Nâng cao hiệu quả hệ thống phòng bệnh và nâng cao sức khỏe thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035 đã được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 262/2025/QH15 ngày 11/12/2025. Việc đưa các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS vào Chương trình mục tiêu quốc gia hướng đến bảo đảm tài chính bền vững khi nguồn viện trợ quốc tế giảm dần. Nhiều địa phương chủ động xây dựng kế hoạch bảo đảm tài chính trong bối cảnh nguồn viện trợ quốc tế không còn, từng bước chủ động nguồn lực trong nước. (cân nhắc đặt tại đây hay trên phần I)
Bên cạnh công tác chuyên môn, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 3868/QĐ-BYT ngày 23/12/2024 của Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt chương trình Chuyển đổi số trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn 2025-2030 nhằm tối ưu hóa quá trình quản lý chuyên môn, đồng thời giảm thiểu chi phí và tăng hiệu quả trong việc triển khai các chương trình phòng chống HIV/AIDS.
- Triển khai hoạt động phòng chống HIV/AIDS cụ thể.
Sau 35 năm ứng phó với dịch HIV, Việt Nam đang trong giai đoạn thực hiện mục tiêu “Chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030”. Công tác phòng, chống HIV/AIDS trong suốt thời gian qua đã được quan tâm đầu tư và đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Chương trình xét nghiệm, dự phòng lây nhiễm HIV và điều trị HIV/AIDS được thực hiện đồng bộ và hiệu quả. Trung bình mỗi năm triển khai hơn 2 triệu mẫu xét nghiệm HIV, trong đó phát hiện hơn 10.000 trường hợp HIV dương tính. Từ năm 2008 đến nay Việt Nam thí điểm và mở rộng triển khai điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện (CDTP) bằng thuốc methadone. Đến hết tháng 12/2024, toàn quốc có 382 cơ sở điều trị methadone với gần 47.000 bệnh nhân tham gia điều trị. Công tác điều trị HIV/AIDS được triển khai từ năm 2000 và được tiếp tục mở rộng với 519 cơ sở điều trị HIV/AIDS, chương trình cung cấp điều trị cho 184.214 người bệnh HIV/AIDS (tháng 12/2024), trong đó có 181.849 người lớn và 2.365 trẻ em. Đến nay, 96% người bệnh HIV/AIDS tham gia bảo hiểm y tế và sử dụng thuốc ARV từ nguồn bảo hiểm y tế chi trả. Bên cạnh đó, chương trình điều trị các bệnh đồng nhiễm HIV/Lao, HIV/viêm gan và các bệnh không lây nhiễm ở người bệnh HIV/AIDS cũng được tăng cường lồng ghép sàng lọc và điều trị trong những năm gần đây. Năm 2024, toàn quốc có khoảng 70.000 người có hành vi nguy cơ cao sử dụng ít nhất 1 lần dịch vụ điều trị dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP). Năm 2023, Việt Nam được Tổ chức Y tế Thế giới công nhận là Quốc gia dẫn đầu khu vực Châu Á Thái Bình Dương về số người được điều trị PrEP.
Công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện công tác phòng chống HIV/AIDS được thực hiện kịp thời. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật và các chương trình, dự án về phòng, chống HIV/AIDS ở các cấp, các ngành thuộc thẩm quyền quản lý. Thực hiện giám sát dịch tễ học HIV/AIDS; củng cố hệ thống báo cáo, quản lý số liệu người nhiễm HIV. Tổ chức kiểm tra, giám sát về cung ứng thuốc, sinh phẩm, quản lý điều trị. Kịp thời chấn chỉnh sai sót, tháo gỡ khó khăn; biểu dương, nhân rộng mô hình hiệu quả.
4. Về đổi mới công tác thông tin, truyền thông và tuyên truyền về phòng chống HIV/AIDS
4.1. Đổi mới nội dung, hình thức truyền thông
Công tác thông tin, truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS được đổi mới theo hướng đa dạng, linh hoạt, phù hợp với từng nhóm đối tượng:
Tăng cường công tác truyền thông đại chúng qua các chương trình phóng sự, báo điện tử, tạp chí về chương trình phòng, chống HIV/AIDS với đa dạng các nội dung phổ biến kiến thức về dự phòng, điều trị, chăm sóc người nhiễm HIV.
Tập trung vào hình thức truyền thông trực tiếp, hướng tới nhóm có hành vi nguy cơ cao lây nhiễm HIV, thanh niên, công nhân, người di biến động. Tổ chức các hoạt động truyền thông, giáo dục sức khỏe trong trường học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp; lồng ghép kiến thức phòng, chống HIV/AIDS vào chương trình ngoại khóa, sinh hoạt Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Phụ nữ. Trẻ vị thành niên, thanh niên được cung cấp kiến thức, kỹ năng phòng tránh lây nhiễm HIV (quan hệ tình dục an toàn, sử dụng bao cao su đúng cách, xét nghiệm HIV định kỳ…). Triển khai truyền thông tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu nhà trọ; phối hợp với công đoàn, doanh nghiệp tổ chức nói chuyện chuyên đề, tư vấn nhóm, phát tài liệu truyền thông cho công nhân lao động. Nhờ đó, nhận thức và kỹ năng dự phòng của thanh thiếu niên và người lao động từng bước được nâng cao; hành vi nguy cơ có xu hướng giảm.
Phát huy vai trò của nhân viên tiếp cận cộng đồng, các tổ chức dựa vào cộng đồng trong việc tiếp cận nhóm khách hàng có hành vi nguy cơ cao lây nhiễm HIV (ma túy, mại dâm, đồng giới nam, chuyển giới nữ, bạn tình người nguy cơ cao, bạn tình người nhiễm HIV), cung cấp các vật dụng giảm tác hại như bao cao su, bơm kim tiêm sạch, tư vấn, chuyển gửi khách hàng đến sử dụng dịch vụ xét nghiệm HIV, điều trị HIV/AIDS, điều trị Methadone; điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV bằng thuốc kháng HIV (PrEP).
Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội, nền tảng số trong truyền thông phòng, chống HIV/AIDS như Facebook, Zalo, YouTube, TikTok, website để chia sẻ thông tin về dự phòng, xét nghiệm và điều trị HIV. Phát triển nội dung truyền thông số, video ngắn, infographic, livestream tư vấn. Ứng dụng các nền tảng trực tuyến để tiếp cận nhóm nguy cơ cao và thanh niên; sản xuất các sản phẩm truyền thông ngắn gọn, dễ tiếp cận, phù hợp xu hướng giới trẻ.
Lồng ghép nội dung phòng, chống HIV/AIDS như giảm kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV, người ảnh hưởng bởi HIV/AIDS; phổ biến thông điệp điều trị hiệu quả như K=K (Không phát hiện = Không lây truyền), điều trị ARV là dự phòng HIV... Lồng ghép truyền thông HIV/AIDS với các chương trình y tế khác như sức khỏe sinh sản, phòng, chống ma túy, phòng, chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục, hưởng ứng chiến dịch truyền thông nhân Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS và Ngày Thế giới phòng, chống AIDS (1/12); Tháng cao điểm dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con.
5. Quản lý nhà nước về hoạt động phòng chống HIV/AIDS và quản lý ngân sách đầu tư, các nguồn lực dành cho công tác phòng chống HIV/AIDS
Quản lý nhà nước về hoạt động phòng chống HIV/AIDS
Công tác quản lý nhà nước về phòng, chống HIV/AIDS tiếp tục được củng cố, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương:
Ở Trung ương, Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS, ma tuý, mại dâm (gọi tắt là Ủy ban Quốc gia) được kiện toàn trên cơ sở Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm được thành lập theo Quyết định số 61/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và kiện toàn theo Quyết định số 50/2007/QĐ-TTg, Quyết định số 2083/QĐ-TTg và Quyết định số 1968/QĐ-TTg. Ủy ban Quốc gia là tổ chức phối hợp liên ngành, có chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, phối hợp công tác phòng, chống AIDS, ma tuý, mại dâm. Trong đó, Bộ Y tế là Cơ quan Thường trực về lĩnh vực phòng, chống AIDS.
Cục Phòng bệnh (trước tháng 3/2025 là Cục Phòng, chống HIV/AIDS) thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Y tế quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật về lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS.
Tại địa phương, để bảo đảm công tác chỉ đạo được mạnh mẽ và xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố đã thành lập Ban Chỉ đạo Phòng, chống AIDS, ma túy, mại dâm hoặc một Ban Chỉ đạo tương đương, với sự tham gia của các sở, ban, ngành và do lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố làm Chủ tịch. Các tỉnh, thành phố trước đây có Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật hoặc Bệnh viện Bệnh nhiệt đới trong đó có Khoa Phòng, chống HIV/AIDS. Tại Trung tâm y tế tuyến huyện có Khoa kiểm soát dịch bệnh HIV/AIDS; các Trạm Y tế xã, phường, thị trấn đều có cán bộ kiêm nhiệm về phòng chống HIV/AIDS và lực lượng nhân viên y tế thôn bản, cộng tác viên, tuyên truyền viên của các ban, ngành, đoàn thể cùng một lực lượng đông đảo nhân viên tiếp cận cộng đồng.
Tổ chức bộ máy phòng, chống HIV/AIDS từng bước được kiện toàn, lồng ghép trong hệ thống y tế dự phòng; phân công rõ trách nhiệm, quyền hạn của từng cấp, từng ngành. Công tác quản lý chuyên môn, quản lý người nhiễm HIV, quản lý thuốc, sinh phẩm, vật tư y tế được thực hiện theo quy định; hệ thống báo cáo, giám sát dịch tễ được duy trì. Nhìn chung, vai trò quản lý nhà nước được tăng cường; trách nhiệm của người đứng đầu được đề cao; cơ chế phối hợp liên ngành ngày càng rõ nét.
Quản lý ngân sách đầu tư, các nguồn lực dành cho công tác phòng chống HIV/AIDS
Nguồn lực tài chính cho công tác phòng, chống HIV/AIDS được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, bảo đảm tính đa dạng và từng bước nâng cao tính bền vững. Các nguồn chủ yếu bao gồm ngân sách nhà nước (ngân sách trung ương và ngân sách địa phương), Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả thuốc ARV và dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh liên quan đến HIV/AIDS, cùng với nguồn viện trợ quốc tế từ các đối tác, trong đó có 2 đối tác lớn là Chương trình Cứu trợ khẩn cấp của Tổng thống Hoa Kỳ về phòng, chống AIDS (PEPFAR) và Quỹ Toàn cầu phòng, chống AIDS, Lao và Sốt rét (Global Fund). Bên cạnh đó, nguồn lực còn được huy động từ xã hội hóa, bao gồm đóng góp của người sử dụng dịch vụ, khu vực tư nhân, các tổ chức xã hội và cộng đồng, cũng như các nguồn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Giai đoạn 2021-2024, tổng kinh phí cho công tác phòng, chống HIV/AIDS là 432,7 triệu đô la Mỹ so với 619,2 triệu đô la Mỹ ước tính để thực hiện Chiến lược quốc gia trong giai đoạn này. Mức độ đáp ứng đạt 70%. Nguồn tài chính trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu để thực hiện các mục tiêu của Chiến lược quốc gia chấm dứt dịch bệnh AIDS đến năm 2030[30]. Giai đoạn 2021–2024, tỷ trọng nguồn ngân sách nhà nước đạt 52% tổng kinh phí huy động. Trong đó, Quỹ Bảo hiểm y tế đã chi trả 80,3 triệu đô la Mỹ cho thuốc ARV; chi phí khám bệnh, chữa bệnh liên quan đến HIV/AIDS được thanh toán qua Bảo hiểm y tế chiếm 19% tổng nguồn lực phân bổ cho HIV. Ngân sách trung ương và địa phương bố trí 67,7 triệu USD (chiếm 16%); nguồn tài chính huy động từ người sử dụng dịch vụ, khu vực tư nhân và các nguồn hợp pháp khác trong nước đạt 86 triệu USD[31].
Giai đoạn 2021-2024, tỷ lệ giải ngân các nguồn tài chính trong nước thấp, chưa tối ưu hóa được nguồn tài chính huy động được. Tổng kinh phí quyết toán nguồn tài chính trong nước là 1.238 tỷ đồng cho giai đoạn 2021-2024, so với tổng kinh phí phân bổ cùng kỳ là 1890 tỷ đồng, tỷ lệ giải ngân chỉ đạt 65,5%. Về mức độ giải ngân: 18/63 tỉnh (trước khi sáp nhập) có tỷ lệ giải ngân trên 90% theo số đã được phân bổ: 16/63 tỉnh (trước khi sáp nhập) có tỷ lệ giải ngân trên từ 70-89%. Các tỉnh còn lại đạt tỷ lệ giải ngân dưới 70% theo số đã được phân bổ.
Trong bối cảnh chuyển dịch dần từ nguồn viện trợ quốc tế sang bảo đảm bền vững bằng nguồn lực trong nước, việc chủ động xây dựng kế hoạch tài chính dài hạn và tăng tỷ trọng đầu tư nội địa vẫn là yêu cầu trọng tâm nhằm bảo đảm tính liên tục, ổn định và hiệu quả của công tác phòng, chống HIV/AIDS trong thời gian tới.
6. Công tác khám, chữa bệnh và phòng chống HIV/AIDS (chi tiết theo Biểu mẫu) trong biểu mẫu không thấy có những nội dung đề cập phía dưới
6.1 Công tác phòng chống HIV/AIDS và giám sát dịch tễ HIV/AIDS tại Trung ương và địa phương và mức độ đạt được của các chỉ số cốt lõi
Kết quả đánh giá giữa kỳ Chiến lược quốc gia chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030 (giai đoạn 2021-2024):
Chiến lược Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đặt mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030, không có nghĩa là không còn người nhiễm HIV, không còn người tử vong do AIDS mà là khi đó AIDS không còn là vấn đề sức khỏe đáng lo ngại ở cộng đồng. Kết quả đánh giá giữa kỳ Chiến lược quốc gia chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030 (giai đoạn 2021-2024) cho thấy vẫn còn một khoảng cách giữa hiện tại và mục tiêu cần đạt được:
Về mục tiêu: Chiến lược Quốc gia hướng tới mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030 với ba mục tiêu 95-95-95[32]. Đến năm 2024, kết quả thực hiện mục tiêu này của Việt Nam là 87,3 - 78,9 - 96 (đạt được 1 trong 3 mục tiêu) tức 87,3% người nhiễm biết tình trạng nhiễm HIV của bản thân[33]; 78,9% người biết tình trạng nhiễm HIV được điều trị ARV và 96% người được điều trị ARV có tải lượng vi rút dưới ngưỡng ức chế. Kết quả này cao hơn mức trung bình của khu vực Châu Á- Thái Bình Dương và tiệm cận mức toàn cầu, thể hiện nỗ lực và hiệu quả của chương trình phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam.
Về chỉ tiêu: Có 3/18 chỉ tiêu đạt so với chỉ tiêu đặt ra đến 2025 của Chiến lược quốc gia; Có 6/18 chỉ tiêu đạt gần sát với chỉ tiêu đặt ra đến 2025 của Chiến lược quốc gia; Còn lại 9 chỉ tiêu chưa đạt được so với chỉ tiêu đặt ra đến 2025 của Chiến lược quốc gia[34]; Còn lại 9 chỉ tiêu chưa đạt được kết quả như yêu cầu của Chiến lược.
- Đối với nhóm chỉ tiêu tác động: Số người nhiễm HIV được phát hiện mới từ trung bình >10.000 ca/năm[35] (chỉ tiêu cần đạt mức dưới 1.000 trường hợp/năm vào 2030; Tỷ lệ người nhiễm HIV tử vong liên quan đến HIV/AIDS là 1,9 người/100.000 dân (chỉ tiêu là dưới 1,0/100.000 dân vào năm 2030) ; Tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con là 2,8%[36] (chỉ tiêu là dưới 2% vào năm 2030).
- Đối với nhóm chỉ tiêu dự phòng: Tỷ lệ người có hành vi nguy cơ cao tiếp cận dịch vụ dự phòng còn thấp (nghiện chích ma túy là 42%, phụ nữ bán dâm là 40% và MSM là 54%) so với chỉ tiêu 70% năm 2025 và 80% vào năm 2030; Tỷ lệ người nghiện các chất dạng thuốc phiện được điều trị bằng thuốc thay thế đạt 36,95%, đang tiến gần đến mục tiêu năm 2025; Tỷ lệ nhóm MSM được điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV đạt 29,7%, sát với chỉ tiêu Chiến lược là 30% năm 2025; Tỷ lệ thanh niên trong độ tuổi 15-24 có hiểu biết đầy đủ về HIV/AIDS đạt 39,8% ở nữ và 48,7% ở nam (chỉ tiêu là 80% đến năm 2030); tỷ lệ người dân 15-49 tuổi không kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV đạt 63,9% ở nữ và 63,3% ở nam (chỉ tiêu là 80% đến 2030).
- Đối với nhóm chỉ tiêu về xét nghiệm HIV: Tỷ lệ người nhiễm HIV trong cộng đồng biết tình trạng nhiễm HIV của mình đến nay đạt 87,3% (chỉ tiêu là 90% năm 2025 và 95% năm 2030); Tỷ lệ người có hành vi nguy cơ cao nhiễm HIV được xét nghiệm HIV đã tiệm cần gần với chỉ tiêu 70% năm 2025, kết quả lần lượt ở các nhóm nguy cơ là: nghiện chích ma túy 63%, phụ nữ bán dâm 57,5% và MSM là 79,3%.
- Đối với nhóm chỉ tiêu về điều trị HIV/AIDS: 78,9% người nhiễm HIV được điều trị ARV, còn thấp so với mục tiêu 90% năm 2025 và 95% vào năm 2030; Tỷ lệ người nhiễm HIV điều trị ARV có tải lượng vi rút HIV dưới ngưỡng ức chế các năm là 96%, đã vượt mục tiêu chiến lược là 95%; 85,5% bệnh nhân đồng nhiễm HIV/Lao được điều trị đồng thời cả ARV và Lao, gần với chỉ tiêu 92% vào năm 2025. Tỷ lệ bệnh nhân đồng nhiễm HIV/Viêm gan C được điều trị đồng thời mới đạt 28,7%, thấp so với chỉ tiêu 50% năm 2025 và 75% vào năm 2030.
- Đối với nhóm chỉ tiêu hệ thống y tế: Đến hết năm 2024, cả nước có 58/63 (khoảng 92%) tỉnh, thành phố có kế hoạch bảo đảm tài chính nhằm chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030 đã được phê duyệt; 96% người nhiễm HIV đang tham gia điều trị ARV có thẻ bảo hiểm y tế, gần sát so với mục tiêu 100% đề ra trong chiến lược. Bảo đảm cung ứng thuốc, sinh phẩm, vật tư, trang thiết bị cho công tác phòng, chống HIV/AIDS: Phần lớn thuốc điều trị kháng vi rút HIV (thuốc ARV) hiện có trong danh mục thuốc bảo hiểm y tế chi trả, trong đó có thuốc TLD là phác đồ tối ưu. Thuốc Methadone được mua sắm và cung ứng tại thị trường trong nước và do ngân sách nhà nước đảm bảo. 100% thuốc PrEP và xét nghiệm HIV hiện nay phụ thuộc vào viện trợ từ Quỹ Toàn cầu và PEPFAR, 100% thuốc ARV điều trị cho bệnh nhân nhi do Quỹ Toàn cầu hỗ trợ.
- Bảo đảm duy trì các dịch vụ trong giai đoạn COVID-19: Việt Nam chịu tác động của dịch COVID-19, việc cung cấp các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS năm 2021-2022 cũng bị ảnh hưởng. Để duy trì các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS trong giai đoạn này, nhiều mô hình được thực hiện một cách linh hoạt và hiệu quả như cấp phát thuốc ARV nhiều tháng, thí điểm cấp phát thuốc methadone nhiều ngày, tự xét nghiệm HIV hoặc cung cấp sinh phẩm tự xét nghiệm qua website, điều trị PrEP lưu động, PrEP từ xa (Tele PrEP), cung cấp dịch vụ lưu động điều trị viêm gan C cho bệnh nhân HIV/AIDS hoặc bệnh nhân đang điều trị Methadone….
6.2 Việc thực thi chính sách trợ cấp xã hội cho trẻ em bị nhiễm HIV, người nhiễm HIV thuộc hộ nghèo và các đối tượng theo quy định của pháp luật
Việc thực thi chính sách trợ cấp xã hội đối với trẻ em bị nhiễm HIV, người nhiễm HIV thuộc hộ nghèo và các đối tượng theo quy định của pháp luật tiếp tục được các địa phương quan tâm triển khai theo đúng quy định hiện hành.
Theo Khoản 13 Điều 1 Luật Phòng, chống HIV/AIDS sửa đổi, nhà nước cấp miễn phí thuốc kháng HIV cho trẻ em dưới 6 tuổi và phụ nữ, trẻ em có chỉ định điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con[37].
Đối với người nhiễm HIV thuộc hộ nghèo, theo Khoản 10, Điều 1, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế người nhiễm HIV thuộc hộ gia đình nghèo thuộc nhóm đối tượng tham gia bảo hiểm y tế[38] ngân sách do nhà nước đóng.
Đối với những đối tượng người nhiễm HIV bị gián đoạn thẻ bảo hiểm y tế, được bảo đảm duy trì điều trị ARV từ nguồn Quỹ Toàn cầu tài trợ.
6.3 Việc thực thi quyền và lợi ích hợp pháp của người HIV/AIDS được tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, sinh con, nuôi con...
Việc thực thi quyền và lợi ích hợp pháp của người nhiễm HIV/AIDS trong tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế, đặc biệt trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, sinh con và nuôi con, tiếp tục được bảo đảm theo quy định hiện hành.
Theo Điều 4 Luật Phòng, chống HIV/AIDS, nguyên tắc phòng, chống HIV/AIDS bao gồm: Khoản 1: Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nhiễm HIV; Khoản 2: Không kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV. Đây là căn cứ pháp lý chung bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nhiễm HIV/AIDS.
Theo Điều 4, Luật Phòng, chống HIV/AIDS, người nhiễm HIV được giữ bí mật riêng tư liên quan đến tình trạng nhiễm HIV, được chăm sóc và điều trị, được học tập, lao động, sinh hoạt như người không nhiễm HIV và kết hôn, sinh con theo quy định của pháp luật[39]. Theo Điều 35, Luật Phòng, chống HIV/AIDS, phụ nữ nhiễm HIV được tư vấn trong thời kỳ mang thai, cho con bú, điều trị dự phòng lây truyền HIV sang con, và trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV được xét nghiệm và điều trị dự phòng HIV[40].
6.5 Việc tổ chức, quản lý, vận hành các đơn vị điều trị dành cho người nhiễm HIV/AIDS
Đến năm 2025, cả nước có 519 cơ sở điều trị HIV/AIDS đang triển khai cung cấp dịch vụ điều trị ARV, hình thành mạng lưới điều trị rộng khắp từ tuyến trung ương đến tuyến cơ sở trên 34 tỉnh/ thành phố, bảo đảm khả năng tiếp cận dịch vụ cho người nhiễm HIV trên phạm vi toàn quốc. Hệ thống này bao gồm các cơ sở điều trị tại bệnh viện tuyến trung ương, tuyến tỉnh và tuyến xã/phường; Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) các tỉnh/thành phố; trung tâm y tế khu vực; các phòng khám ngoại trú HIV/AIDS; cùng một số cơ sở y tế tư nhân đủ điều kiện tham gia điều trị và thanh toán bảo hiểm y tế. Mạng lưới điều trị được duy trì và củng cố đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm điều trị liên tục, tăng tỷ lệ bao phủ điều trị ARV và nâng cao chất lượng chăm sóc, quản lý người nhiễm HIV. Việc quản lý bệnh nhân được đồng bộ trên phần mềm quản lý bệnh nhân HMED, bảo đảm cập nhật đầy đủ thông tin điều trị, theo dõi tải lượng vi rút, tình trạng bảo hiểm y tế và quá trình cấp phát thuốc ARV, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát và liên thông dữ liệu trong toàn quốc.
6.6 Nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác phòng chống và điều trị HIV/AIDS
Nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ trong công tác phòng, chống HIV/AIDS tiếp tục được đẩy mạnh nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả can thiệp và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ. Các tiến bộ khoa học được ứng dụng trong chẩn đoán sớm, cũng như trong quản lý thông tin, theo dõi và đánh giá chương trình. Việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý giám sát ca bệnh, tư vấn từ xa và truyền thông thay đổi hành vi đã góp phần cải thiện tuân thủ điều trị và duy trì liên tục dịch vụ.
Đặc biệt, việc triển khai tự xét nghiệm HIV (qua website tuxetnghiem.vn) là một bước tiến quan trọng trong mở rộng tiếp cận xét nghiệm sớm và phát hiện ca nhiễm mới. Ứng dụng cung cấp sinh phẩm tự xét nghiệm cho phép người dân chủ động thực hiện xét nghiệm trong môi trường riêng tư, thuận tiện, giảm rào cản tâm lý và kỳ thị, đồng thời tăng khả năng tiếp cận đối với các nhóm nguy cơ cao, nhóm khó tiếp cận dịch vụ y tế truyền thống. Các mô hình phân phối tự xét nghiệm thông qua cơ sở y tế, tổ chức cộng đồng, kênh trực tuyến và hiệu thuốc đã được thí điểm và mở rộng tại nhiều địa phương.
Thêm vào đó, chuyển đổi số trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS giúp tối ưu hóa quá trình quản lý chuyên môn, đồng thời giảm thiểu chi phí và tăng hiệu quả trong việc triển khai các chương trình phòng chống HIV/AIDS. Hệ thống quản lý thông tin về HIV/AIDS đã đáp ứng yêu cầu bước đầu trong quản lý thông tin các trường hợp nhiễm HIV/AIDS trên toàn quốc, sử dụng dữ liệu trong báo cáo giám sát dịch và đáp ứng y tế công cộng. Trong thời gian tới, hệ thống tiếp tục hoàn thiện các chức năng, tăng cường liên thông, kết nối với các hệ thống thông tin khác và thực hiện triển khai tới các cơ quan về giám sát dịch ở các tuyến. Thêm vào đó, công tác chuyển đổi số được áp dụng tích cực để nâng cao hiệu quả giám sát người nhiễm HIV và điều trị bệnh nhân HIV. Cơ sở dữ liệu của bệnh nhân được đồng bộ hóa với cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia theo Nghị quyết 71/NQ-CP[41] và Nghị quyết 214/NQ-CP[42].
Hệ thống quản lý thông tin HIV/AIDS (HIV-info) đã đáp ứng yêu cầu bước đầu trong quản lý thông tin các trường hợp nhiễm HIV/AIDS trên toàn quốc, sử dụng dữ liệu trong báo cáo giám sát dịch và đáp ứng y tế công cộng. Trong thời gian tới, hệ thống tiếp tục hoàn thiện các chức năng, tăng cường liên thông, kết nối với các hệ thống thông tin khác và thực hiện triển khai tới các cơ quan về giám sát dịch ở các tuyến. Hệ thống quản lý điều trị HIV (HMED) đã có đầy đủ các chức năng cơ bản trong quản lý cấp phát thuốc và quản lý bệnh nhân HIV/AIDS. Trong thời gian tới, hệ thống tập trung nâng cấp các chức năng về bảo đảm chất lượng dữ liệu, liên thông với các cơ sở điều trị HIV/AIDS để thu thập đầy đủ thông tin điều trị của bệnh nhân HIV/AIDS thông qua công cụ thu thập dữ liệu theo Quyết định 4750/QĐ-BYT ngày 29/12/2023 của Bộ Y tế về Sửa đổi, bổ sung quyết định số 130/QĐ-BYT ngày 18/01/2023 của Bộ Y tế quy định chuẩn và định dạng dữ liệu đầu ra phục vụ việc quản lý, giám định, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh và giải quyết các chế độ liên quan.
6.7 Mức độ tự chủ về sinh phẩm, dược phẩm phục vụ công tác phòng và điều trị HIV/AIDS và những vấn đề liên quan mang tính đặc thù
Phần lớn sinh phẩm xét nghiệm sàng lọc HIV, xét nghiệm khẳng định HIV của Việt Nam đã tự chủ từ nguồn ngân sách trong nước, chiếm khoảng 84%. Ngân sách trong nước cho hoạt động này đến từ các nguồn kinh phí địa phương, bảo hiểm y tế, tự chi trả của người dân, chủ yếu xét nghiệm HIV cho nhóm đối tượng phụ nữ mang thai, khám tuyển quân nghĩa vụ quân sự. Khoảng 16% ngân sách còn lại đến từ các nguồn viện trợ từ các tổ chức quốc tế (Quỹ toàn cầu phòng, chống HIV/AIDS, PEPFAR) cho nhóm có hành vi nguy cơ cao lây nhiễm HIV như: sinh phẩm xét nghiệm nhanh (Bioline HIV 1/2 3.0, Determine HIV 1/2), sinh phẩm xét nghiệm HIV/Giang mai (Bioline HIV/Syphilis Duo), sinh phẩm tự xét nghiệm (Oraquick HIV Self-test).
Trên 90% thuốc ARV điều trị cho người nhiễm HIV ở Việt Nam đã tự chủ từ nguồn ngân sách trong nước, từ các nguồn kinh phí địa phương, bảo hiểm y tế, tự chi trả của người dân. Khoảng 10% ngân sách còn lại đến từ nguồn viện trợ Quỹ toàn cầu phòng, chống HIV/AIDS cho các đối tượng trẻ em điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con, trẻ em nhiễm HIV sử dụng thuốc ARV dạng dùng trẻ em, người nhiễm HIV điều trị các thuốc ARV trong phác đồ Bảo hiểm y tế chi trả và ngân sách nhà nước chưa cung ứng, người nhiễm HIV chưa tiếp cận được thuốc Bảo hiểm y tế.
II. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
- Những tồn tại, hạn chế
Những diễn biến phức tạp của tình hình dịch HIV/AIDS tại Việt Nam, việc thay đổi xu hướng dịch và nhóm người nhiễm HIV mới được phát hiện ngày càng trẻ hóa đặt ra thách thức lớn cho Việt Nam trên chặng đường thực hiện mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030.
1.1. Phát hiện người nhiễm HIV
Xét nghiệm HIV là cách duy nhất để phát hiện người nhiễm HIV. Chương trình tư vấn, xét nghiệm HIV hiện vẫn đạt được tiến độ chung nhưng vẫn đối mặt với nhiều thách thức do phụ thuộc nhiều vào nguồn viện trợ quốc tế, trong khi nguồn viện trợ đang giảm dần. Bảo hiểm y tế và ngân sách nhà nước hiện nay không chi trả cho xét nghiệm sàng lọc HIV. Xét nghiệm HIV chuyển sang hình thức mua dịch vụ, một số đơn vị gặp khó khăn trong mua sắm sinh phẩm.
Phát hiện, tìm ca nhiễm HIV trong cộng đồng gặp khó khăn do không có nhóm tiếp cận cộng đồng, chưa ước tính được quần thể để can thiệp. Các thủ tục pháp lý phức tạp trong đấu thầu, mua sắm làm gián đoạn nguồn cung trang thiết bị và sinh phẩm và vật tư thiết yếu cho các phòng xét nghiệm.
Việc kết nối điều trị sau xét nghiệm đã được đảm bảo, tuy nhiên một số bệnh nhân vẫn e ngại công khai tình trạng nhiễm HIV nên người nhiễm phát hiện mới tại cơ sở y tế bị mất dấu, không tư vấn được bạn tình/ bạn chích để kết nối điều trị.
1.2. Thông tin, giáo dục, truyền thông, giảm kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV
Thời điểm, thời lượng phát sóng trên đài phát thanh, đài truyền hình, dung lượng và vị trí đăng trên báo in, báo điện tử đối với thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS không còn là nội dung ưu tiên.
Nhiều tỉnh, thành phố chưa chú trọng truyền thông trên các trang thông tin điện tử của ngành y tế hay các cơ quan, đơn vị y tế. Hình thức, phương pháp tổ chức truyền thông chưa tập trung cho nhóm nguy cơ đặc thù như nam quan hệ tình dục đồng giới, người chuyển giới. Địa phương không bố trí đủ kinh phí cho truyền thông, cho chi trả phụ cấp cán bộ chuyên trách, cộng tác viên, nhân viên tiếp cận cộng đồng - lực lượng chủ yếu làm công tác truyền thông phòng, chống HIV/AIDS. Bên cạnh đó, năng lực của đội ngũ cán bộ cộng tác viên bao gồm cả kỹ năng và kiến thức truyền thông phòng, chống HIV/AIDS còn hạn chế.
Vẫn tồn tại kỳ thị và phân biệt đối xử, tự kỳ thị liên quan đến HIV tại cơ sở y tế, gia đình và ngoài xã hội, nơi làm việc như thiếu hiểu biết về HIV/AIDS, về dự phòng và quyền của người sống chung với HIV.
Hoạt động của các tổ chức cộng đồng trong phòng, chống HIV/AIDS chủ yếu dựa vào các nguồn tài trợ quốc tế. Hiện nay chưa có các cơ chế, chính sách sử dụng các nguồn tài chính trong nước cho các tổ chức cộng đồng.
1.3. Can thiệp giảm hại, dự phòng lây nhiễm HIV
Các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV ngày càng khó kiểm soát và can thiệp như quan hệ tình dục tập thể, sử dụng chất kích thích, ma túy tổng hợp khi quan hệ tình dục, xuất hiện nhiều loại ma túy mới. Mạng internet, mạng xã hội phát triển mạnh mẽ khiến đối tượng nguy cơ cao có nhiều cơ hội tiếp cận nhiều bạn tình và tạo nên nhiều hành vi nguy cơ đan xen.
Các hoạt động can thiệp giảm tác hại như cung cấp bao cao su, bơm kim tiêm sạch chủ yếu do Dự án Quỹ Toàn cầu hỗ trợ, một số ít địa phương chủ động kinh phí từ Đề án đảm bảo tài chính do tỉnh phê duyệt nhưng ngân sách đầu tư cũng rất hạn chế.
Những thay đổi mới trong chính sách về việc điều trị nghiện và cai nghiện ma túy đã trở thành rào cản cho người nghiện các chất dạng thuốc phiện e ngại khi đến đăng kí tham gia điều trị. Bên cạnh đó, điều trị nghiên các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone (gọi tắt là điều trị Methadone) yêu cầu người nghiện phải uống thuốc hằng ngày. Một số tỉnh miền núi địa bàn đi lại khó khăn nên ảnh hưởng đến tuân thủ và duy trì điều trị của người bệnh. Sự kỳ thị đối với người nghiện làm hạn chế tiếp cận với điều trị. Tỷ lệ người sử dụng ma túy tổng hợp ngày càng tăng trong khi điều trị Methadone chỉ áp dụng cho người nghiện các chất dạng thuốc phiện.
Các loại ma túy tổng hợp ngày càng đa dạng và chưa có phác đồ điều trị hiệu quả để điều trị nghiện ma túy tổng hợp (ATS), việc nghiên cứu về chẩn đoán và điều trị nghiện ma túy tổng hợp còn gặp rất nhiều khó khăn do người sử dụng không xuất hiện hội chứng cai điển hình, các dạng/thể của ma túy tổng hợp thay đổi nhanh chóng về số lượng và tác động; Thiếu các số liệu nghiên cứu, báo cáo về tình hình nghiện ma túy tổng hợp, hành vi và các chỉ số sinh học liên quan đến sử dụng ma túy tổng hợp (ATS).
1.4. Điều trị dự phòng trước phơi nhiễm với HIV bằng thuốc kháng HIV (PrEP)
- PrEP là một biện pháp can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV còn mới tại Việt Nam so với các can thiệp dự phòng nhiễm HIV khác . Còn thiếu thông tin về sự cần thiết, lợi ích, cách thức tiếp cận với PrEP của nhóm thanh niên trẻ và chiến lược tiếp cận quần thể đích, các hoạt động truyền thông tạo cầu phù hợp với đối tượng đích . Thách thức đặt ra yêu cầu phải truyền thông tạo cầu phù hợp, hiệu quả với đối tượng đích.
- Kích cỡ quần thể nguy cơ (MSM) tăng đặt ra các vấn đề cần được giải quyết trong việc tiếp cận quần thể ẩn, đảm bảo nguồn cung ứng dịch vụ PrEP và hỗ trợ duy trì tuân thủ điều trị PrEP.
- Hiện nay điều trị PrEP chủ yếu do các nhà tài trợ hỗ trợ (Quỹ Toàn cầu và PEPFAR). Các chi phí của dịch vụ PrEP bao gồm chi phí khám, xét nghiệm HIV, creatinine, sàng lọc viêm gan B, C, sàng lọc, chẩn đoán và điều trị nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục, thuốc ARV. Trong thời gian tới khi các nguồn viện trợ cắt giảm, PrEP là dịch vụ bị ảnh hưởng nhiều nhất do bảo hiểm y tế hiện chưa chi trả cho dịch vụ PrEP. Bên cạnh đó, giá thành điều trị STIs cao là rào cản cho khách hàng đang điều trị PrEP có mắc STIs.
- Chi phí cho thuốc PrEP còn cao là rào cản để tiếp cận, mở rộng và duy trì bền vững chương trình PrEP cho quần thể MSM.
- Chưa có bằng chứng nghiên cứu nguyên nhân của việc khách hàng dừng sử dụng dịch vụ PrEP và việc tuân thủ điều trị để đảm bảo chất lượng chương trình.
1.5. Điều trị HIV/AIDS bằng thuốc kháng HIV (ARV)
Điều trị thuốc kháng vi rút HIV (thuốc ARV):
- Về cung ứng thuốc ARV: 96% người bệnh HIV/AIDS tham gia bảo hiểm y tế, 92% người bệnh được điều trị bằng nguồn thuốc bảo hiểm y tế nhưng thực tế vẫn gặp phải tình trạng thuốc bảo hiểm y tế mua sắm bị chậm do thực hiện quy trình thủ tục về mua sắm, đấu thầu. Hiện tại, số lượng các số đăng ký về thuốc ARV đã gia tăng tại Việt Nam, tuy nhiên một số loại thuốc ARV hiện không có đơn vị cung ứng như các thuốc ARV dạng dùng trẻ em, thuốc điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con. Một số thuốc ARV dạng dùng trẻ em và thuốc mới điều trị người nhiễm HIV hiện chưa nằm trong danh mục bảo hiểm y tế chi trả.
- Về xét nghiệm theo dõi trước và trong điều trị: Số lượng ít các cơ sở xét nghiệm tải lượng HIV đặc biệt là các tỉnh thuộc khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa. Tình trạng người bệnh HIV/AIDS tiếp cận điều trị ở giai đoạn HIV tiến triển còn cao , nhưng các xét nghiệm đặc thù để chẩn đoán HIV tiến triển (tế bào CD4, CRP…) và xét nghiệm chẩn đoán sớm nhiễm HIV trẻ em, sàng lọc, phát hiện sớm các bệnh đồng nhiễm, bệnh nhiễm trùng cơ hội ít có sẵn tại các cơ sở y tế hoặc chưa được bảo hiểm y tế chi trả. Nhiều đơn vị khối y tế dự phòng chưa triển khai được chi trả xét nghiệm tải lượng vi rút qua bảo hiểm y tế.
- Bảo hiểm y tế: Vẫn còn một bộ phận người bệnh không có thẻ/ bị gián đoạn thẻ bảo hiểm y tế. Điều này dẫn đến việc không tiếp cận/gián đoạn tiếp cận với thuốc ARV và các dịch vụ điều trị HIV khác do bảo hiểm y tế chi trả.
Điều trị đồng nhiễm HIV/lao, HIV/viêm gan:
- Việc sàng lọc lao bằng triệu chứng chưa được thực hiện thường quy tại các cơ sở điều trị HIV/AIDS, đặc biệt là đối với người bệnh điều trị ARV ổn định; Một số xét nghiệm phục vụ cho phát hiện tích bệnh lao như xét nghiệm LF-LAM, XN CRP chưa sẵn có tại phần lớn các cơ sở điều trị HIV/AIDS và chưa được Quỹ bảo hiểm y tế chi trả; Công tác quản lý ca bệnh trong chẩn đoán và điều trị đồng nhiễm HIV/lao còn chưa đồng bộ, thống nhất giữa cơ sở điều trị HIV/AIDS và cơ sở điều trị lao.
- Xét nghiệm sàng lọc viêm gan C (anti HCV) chưa được Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả. Xét nghiệm tải lượng vi rút viêm gan C hiện chỉ được thực hiện tại các bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến trung ương và giá thành còn cao. Phần lớn người bệnh mắc viêm gan C đều diễn biến tiềm tàng, không có triệu chứng cho đến khi xuất hiện các dấu hiệu của xơ gan hay ung thư gan. Tuy nhiên, đến thời điểm này mới điều trị thì đã muộn, người bệnh có thể tử vong vì các biến chứng của xơ gan hoặc ung thư gan. Phần lớn người nhiễm HIV được điều trị ARV tại các cơ sở y tế chưa được bảo hiểm y tế chi trả. Điều này ảnh hưởng lớn việc tiếp cận với điều trị viêm gan C ở người nhiễm HIV đặc biệt là người bệnh ở các khu vực vùng sâu, vùng xa, khó tiếp cận với cơ sở y tế tuyến trên để Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả. Số người bệnh viêm gan C được điều trị và chi trả qua bảo hiểm y tế còn rất ít . Thuốc điều trị viêm gan C được Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả nhưng chỉ thanh toán 50% mức hưởng bảo hiểm y tế của người tham gia Bảo hiểm y tế, chi phí cho thuốc điều trị viêm gan C hiện vẫn cao.
1.6. Ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong phòng, chống HIV/AIDS
Mặc dù hệ thống thông tin phòng, chống HIV/AIDS đã được xây dựng, vận hành và báo cáo hiệu quả, song vẫn còn nhiều khó khăn như việc ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số thiếu đồng bộ tại các tuyến về phần cứng (trang thiết bị, hạ tầng công nghệ thông tin), phần mềm (giám sát ca bệnh và quản lý điều trị HIV/AIDS, PrEP); hạ tầng công nghệ thông tin chưa đủ mạnh để đáp ứng nhu cầu quản lý và vận hành khối lượng dữ liệu HIV/AIDS ngày càng lớn và mở rộng. Đồng thời năng lực, kỹ năng cán bộ về công nghệ thông tin tại các tuyến còn hạn chế hoặc không đồng đều.
1.7. Về nhân lực
Tình trạng thiếu nhân lực chuyên trách về HIV/AIDS tại các tuyến, nhiều cán bộ kiêm nhiệm. Chế độ đãi ngộ chưa tương xứng đối với cán bộ làm công tác y tế dự phòng và phòng, chống HIV/AIDS tại các tuyến nên gặp khó khăn trong thu hút nhân lực làm công tác phòng, chống HIV/AIDS.
1.8. Về tài chính
Nguồn tài chính trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu để thực hiện các mục tiêu của Chiến lược quốc gia chấm dứt dịch bệnh AIDS đến năm 2030. Tổng kinh phí cho giai đoạn 2021-2024 là 432,7 triệu đô la Mỹ so với 619,2 triệu đô la Mỹ ước tính để thực hiện Chiến lược quốc gia trong giai đoạn này. Mức độ đáp ứng đạt 70%.
Giai đoạn 2021-2024, tỷ lệ giải ngân các nguồn tài chính trong nước thấp, chưa tối ưu hóa được nguồn tài chính huy động được. Tổng kinh phí quyết toán nguồn tài chính trong nước là 1.238 tỷ đồng cho giai đoạn 2021-2024, so với tổng kinh phí phân bổ cùng kỳ là 1890 tỷ đồng, tỷ lệ giải ngân chỉ đạt 65,5%. Về mức độ giải ngân: 18/63 tỉnh (trước khi sáp nhập) có tỷ lệ giải ngân trên 90% theo số đã được phân bổ: 16/63 tỉnh (trước khi sáp nhập) có tỷ lệ giải ngân trên từ 70-89%. Các tỉnh còn lại đạt tỷ lệ giải ngân dưới 70% theo số đã được phân bổ.
Nhu cầu tài chính lớn để thực hiện mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030: Giai đoạn 2026–2030, tổng nhu cầu kinh phí để triển khai đầy đủ các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS trên phạm vi toàn quốc được ước tính khoảng 857,3 triệu USD (khoảng 20.000 tỷ đồng).
Việc thiếu hụt kinh phí do cắt giảm đột ngột các nguồn viện trợ cho phòng, chống HIV/AIDS, ngân sách nhà nước phân bổ còn hạn hẹp.
Đề xuất nhu cầu: Xu thế diễn biến phức tạp của tình hình dịch HIV/AIDS đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục triển khai mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS theo hướng tiếp cận toàn diện các dịch vụ dự phòng, xét nghiệm và điều trị HIV/AIDS. Với những thuận lợi, khó khăn, thách thức và khoảng trống như trên, nhu cầu xây dựng đề án là cần thiết trong bối cảnh hiện nay nhằm tiếp nối và phát huy các thành tựu, kết quả đã đạt được trong công tác phòng, chống HIV/AIDS và tập trung giải quyết các khoảng trống chính sách, khoảng thiếu hụt ngân sách cho phòng, chống HIV/AIDS.
2. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
2.1 Nguyên nhân khách quan
Dịch HIV/AIDS tiếp tục diễn biến phức tạp, với xu hướng lây nhiễm chuyển dịch sang nhóm đối tượng trẻ, khó tiếp cận, đặc biệt là các nhóm sử dụng mạng xã hội trong giao tiếp và kết nối bạn tình, xu hướng sử dụng chất kích thích trong giới trẻ làm giảm hiệu quả của các biện pháp can thiệp truyền thống tại cộng đồng. Bên cạnh đó, quá trình di biến động dân cư, đô thị hóa nhanh và sự gia tăng các hành vi nguy cơ trong một bộ phận thanh thiếu niên đã làm thay đổi đặc điểm dịch tễ, gây khó khăn cho công tác quản lý, giám sát và triển khai các hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV.
Trong giai đoạn chuyển tiếp tài chính, nguồn viện trợ quốc tế cho chương trình phòng, chống HIV/AIDS giảm mạnh, trong khi ngân sách địa phương chưa kịp thời bố trí, huy động đầy đủ, ảnh hưởng đến việc duy trì và mở rộng một số hoạt động can thiệp. Đồng thời, tác động kéo dài của dịch COVID-19 trong giai đoạn trước đã làm gián đoạn một số hoạt động tiếp cận cộng đồng, xét nghiệm phát hiện sớm và duy trì điều trị, ảnh hưởng nhất định đến tiến độ thực hiện các chỉ tiêu, mục tiêu đề ra.
2.2 Nguyên nhân chủ quan
Một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa thực sự quyết liệt trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo; việc kiểm tra, giám sát thực hiện nhiệm vụ phòng, chống HIV/AIDS chưa được duy trì thường xuyên, dẫn đến hiệu quả triển khai tại một số đơn vị chưa đồng đều. Công tác tham mưu ở một số nơi còn chậm, chất lượng dự báo xu hướng dịch chưa sát thực tiễn, ảnh hưởng đến việc xây dựng kế hoạch và phân bổ nguồn lực phù hợp.
Năng lực đội ngũ cán bộ chuyên trách HIV/AIDS tại tuyến cơ sở còn hạn chế; tình trạng kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ phổ biến, làm giảm tính chuyên sâu và ảnh hưởng đến chất lượng triển khai hoạt động chuyên môn. Bên cạnh đó, việc sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện và thực hiện chủ trương tinh gọn bộ máy trong thời gian qua đã dẫn đến biến động về tổ chức, nhân sự, thay đổi đầu mối quản lý, gây gián đoạn nhất định trong công tác chỉ đạo, điều phối và phối hợp liên ngành ở một số địa phương.
Việc đổi mới nội dung, phương pháp truyền thông chưa theo kịp sự phát triển nhanh của môi trường truyền thông số và sự thay đổi hành vi của các nhóm đích, làm hạn chế hiệu quả tiếp cận. Công tác huy động nguồn lực xã hội hóa cho phòng, chống HIV/AIDS tại một số địa phương còn hạn chế, chưa phát huy đầy đủ sự tham gia của các tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng trong hỗ trợ triển khai các hoạt động.
3. Một số kinh nghiệm trong phòng chống HIV/AIDS
Qua thực tiễn triển khai công tác phòng, chống HIV/AIDS trong giai đoạn vừa qua, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm quan trọng. Trước hết, cần bảo đảm sự lãnh đạo thường xuyên, trực tiếp của cấp ủy Đảng và sự chỉ đạo quyết liệt của chính quyền các cấp; đồng thời đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong tổ chức thực hiện. Mục tiêu phòng, chống HIV/AIDS phải được lồng ghép chặt chẽ với nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội và các chương trình y tế cơ sở, bảo đảm tính đồng bộ, hiệu quả và bền vững.
Trong triển khai hoạt động chuyên môn, cần lấy người nhiễm HIV và nhóm có hành vi nguy cơ cao làm trung tâm, mở rộng các mô hình tiếp cận dựa vào cộng đồng nhằm tăng khả năng tiếp cận dịch vụ dự phòng, xét nghiệm và điều trị. Đồng thời, phải chủ động bảo đảm tài chính bền vững cho chương trình, tăng dần tỷ trọng ngân sách trong nước và phát huy vai trò của bảo hiểm y tế trong chi trả dịch vụ điều trị HIV/AIDS.
Bên cạnh đó, việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý điều trị và giám sát dịch tễ là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, theo dõi và đánh giá chương trình. Cuối cùng, cần đẩy mạnh phối hợp liên ngành, huy động sự tham gia của các tổ chức xã hội, cộng đồng và khu vực tư nhân để tạo sự đồng thuận, chia sẻ trách nhiệm và nguồn lực trong công tác phòng, chống HIV/AIDS.
III. Đánh giá chung
Qua quá trình triển khai thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW, công tác phòng, chống HIV/AIDS đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng; hệ thống chính sách, pháp luật từng bước hoàn thiện; các chỉ số điều trị và kiểm soát dịch được cải thiện rõ rệt; nhận thức của các cấp, các ngành và nhân dân được nâng cao.
Tuy nhiên, dịch HIV/AIDS vẫn tiềm ẩn nguy cơ gia tăng trong một số nhóm đối tượng; tính bền vững về tài chính và nhân lực cần tiếp tục được củng cố. Trong thời gian tới, cần tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, đổi mới phương thức can thiệp, bảo đảm nguồn lực bền vững, quyết tâm thực hiện mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030.
PHẦN THỨ BA
Phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để tăng cường thực hiện
Chỉ thị 07-CT/TW đạt được mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS trước năm 2030 và bảo đảm kiểm soát không tái bùng phát sau năm 2030
I. Dự báo tình hình
1. Bối cảnh quốc tế và trong nước
Trong bối cảnh hiện nay, thế giới tiếp tục hướng đến mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030 theo định hướng của UNAIDS, đồng thời xu hướng thu hẹp nguồn tài trợ quốc tế cho HIV/AIDS đặt ra yêu cầu các quốc gia phải tăng cường tự chủ tài chính và bảo đảm tính bền vững của chương trình. Tình hình dịch HIV/AIDS có sự chuyển dịch rõ nét sang nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) và thanh niên trẻ tuổi; việc gia tăng sử dụng các nền tảng số để tìm kiếm bạn tình làm thay đổi đặc điểm dịch tễ và gây khó khăn cho các biện pháp tiếp cận truyền thống. Trong khi đó, các tiến bộ khoa học công nghệ, mở rộng điều trị dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP), điều trị sớm và áp dụng các phác đồ mới tiếp tục tạo cơ hội nâng cao hiệu quả phòng, chống HIV/AIDS.
Tại Việt Nam, Chiến lược quốc gia chấm dứt dịch bệnh AIDS đến năm 2030 tiếp tục được triển khai với mục tiêu kiểm soát dịch bền vững. Mặc dù dịch HIV/AIDS cơ bản được kiểm soát, nguy cơ gia tăng vẫn tiềm ẩn tại một số nhóm nguy cơ cao và địa bàn trọng điểm. Bên cạnh đó, quá trình tinh gọn bộ máy, sắp xếp tổ chức y tế dự phòng có thể ảnh hưởng đến đội ngũ nhân lực chuyên trách HIV/AIDS; yêu cầu bảo đảm tài chính bền vững trong bối cảnh nguồn viện trợ giảm mạnh cũng tạo áp lực lớn đối với ngân sách trong nước và công tác huy động nguồn lực.
2. Thách thức và những định hướng trong thời gian tới
2.1. Thách thức
Thứ nhất, diễn biến dịch tiếp tục phức tạp và xu hướng trẻ hóa.
Dịch HIV/AIDS tại Việt Nam đang chuyển dịch mạnh sang nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM), người chuyển giới và thanh niên trẻ tuổi; hành vi nguy cơ ngày càng đa dạng, đan xen giữa quan hệ tình dục không an toàn và sử dụng chất kích thích, ma túy tổng hợp. Sự phát triển nhanh của mạng xã hội và các nền tảng kết nối trực tuyến làm gia tăng nguy cơ lây nhiễm nhưng khó kiểm soát bằng các biện pháp truyền thống.
Thứ hai, nguy cơ thiếu hụt nguồn tài chính bền vững.
Nguồn viện trợ quốc tế tiếp tục cắt giảm, trong khi ngân sách trong nước chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực hiện mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030. Một số dịch vụ quan trọng như xét nghiệm sàng lọc HIV, PrEP, sàng lọc viêm gan C, xét nghiệm chuyên sâu… chưa được bảo hiểm y tế chi trả đầy đủ, tạo áp lực lớn cho hệ thống.
Thứ ba, gián đoạn cung ứng thuốc và sinh phẩm.
Quy trình mua sắm, đấu thầu còn phức tạp; nguy cơ chậm cung ứng thuốc ARV, thuốc PrEP, sinh phẩm xét nghiệm và vật tư thiết yếu vẫn tiềm ẩn, ảnh hưởng đến tính liên tục của điều trị và dự phòng.
Thứ tư, hạn chế trong tiếp cận nhóm quần thể ẩn và nhóm nguy cơ cao.
Công tác ước tính kích thước quần thể, tiếp cận cộng đồng còn khó khăn; thiếu cơ chế tài chính trong nước để duy trì hoạt động của các tổ chức cộng đồng – lực lượng đóng vai trò then chốt trong tiếp cận nhóm đích.
Thứ năm, kỳ thị và phân biệt đối xử vẫn tồn tại.
Kỳ thị trong gia đình, cộng đồng, nơi làm việc và thậm chí trong cơ sở y tế làm cản trở người có nguy cơ và người nhiễm HIV tiếp cận dịch vụ xét nghiệm, điều trị và dự phòng.
Thứ sáu, thách thức về nhân lực và tổ chức bộ máy.
Tình trạng thiếu cán bộ chuyên trách, kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ; biến động tổ chức do sắp xếp, tinh gọn bộ máy ảnh hưởng đến tính ổn định và hiệu quả điều phối chương trình.
Thứ bảy, yêu cầu chuyển đổi số và quản lý dữ liệu.
Hệ thống công nghệ thông tin chưa đồng bộ, hạ tầng còn hạn chế trong khi khối lượng dữ liệu ngày càng lớn, đòi hỏi nâng cao năng lực quản lý, bảo mật và khai thác dữ liệu phục vụ giám sát dịch tễ và điều hành chương trình.
2.2. Định hướng trong thời gian tới
Trước những thách thức nêu trên, công tác phòng, chống HIV/AIDS trong giai đoạn tới cần tập trung vào các định hướng chủ yếu sau:
Tiếp tục thực hiện mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030, bảo đảm duy trì bền vững các kết quả đạt được sau năm 2030; lấy người nhiễm HIV và nhóm nguy cơ cao làm trung tâm trong thiết kế và triển khai dịch vụ.
Chuyển mạnh sang bảo đảm tài chính bền vững trong nước, tăng dần tỷ trọng ngân sách nhà nước, phát huy vai trò của bảo hiểm y tế, đa dạng hóa nguồn lực và cơ chế chi trả dịch vụ, từng bước giảm phụ thuộc vào viện trợ quốc tế.
Mở rộng tiếp cận toàn diện các dịch vụ dự phòng – xét nghiệm – điều trị.
Đẩy mạnh phát hiện sớm HIV; mở rộng PrEP; duy trì điều trị ARV liên tục, nâng cao chất lượng quản lý điều trị; tăng cường sàng lọc và điều trị đồng nhiễm HIV/lao, HIV/viêm gan.
Đổi mới mạnh mẽ truyền thông và tiếp cận cộng đồng.
Chuyển trọng tâm sang truyền thông số; phát triển thông điệp phù hợp với thanh niên, MSM, người chuyển giới; tăng cường sự tham gia của tổ chức cộng đồng và mạng lưới đồng đẳng.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số.
Hoàn thiện hệ thống giám sát ca bệnh, quản lý điều trị HIV, PrEP; kết nối dữ liệu liên thông giữa các chương trình; bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin cá nhân.
Củng cố tổ chức bộ máy và phát triển nguồn nhân lực chuyên sâu.
Ổn định đầu mối quản lý sau sắp xếp hành chính; tăng cường đào tạo chuyên môn, kỹ năng truyền thông số và quản lý chương trình; có chính sách đãi ngộ phù hợp đối với cán bộ làm công tác phòng, chống HIV/AIDS.
Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp liên ngành.
Lồng ghép mục tiêu phòng, chống HIV/AIDS vào chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, chương trình y tế cơ sở, chương trình thanh niên và phòng, chống ma túy; phát huy vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội, doanh nghiệp và cộng đồng.
II. Phương hướng
1. Mục tiêu chung
Tăng cường công tác phòng, chống HIV/AIDS tiến tới cơ bản chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030 và bảo đảm kiểm soát không tái bùng phát dịch bệnh AIDS sau năm 2030; góp phần cải thiện an sinh xã hội, giảm tử vong, giảm kỳ thị phân biệt đối xử với người nhiễm HIV và nâng cao nhận thức của cộng đồng về phòng, chống HIV/AIDS.
2. Mục tiêu cụ thể
a) 100% tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có cơ sở tổ chức điều trị dự phòng trước phơi nhiễm với HIV bằng thuốc kháng HIV (PrEP);
b) 50% người có hành vi nguy cơ cao lây nhiễm HIV được điều trị PrEP
c) Trên 90% người nhiễm HIV được điều trị bằng thuốc kháng HIV (ARV) có tải lượng HIV dưới 200 bản sao/ml máu hoặc ở mức không phát hiện;
d) 95% người nhiễm HIV được điều trị đồng thời cả ARV và các bệnh đồng nhiễm, các bệnh không lây nhiễm ở người nhiễm HIV.
đ) 100% trẻ sinh ra từ bà mẹ nhiễm HIV được cung cấp đầy đủ thuốc ARV để dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con;
e) 100% cơ sở y tế có dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý, theo dõi các dịch vụ và báo cáo;
III. Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu
1. Hoàn thiện thể chế, văn bản quy phạm pháp luật, tăng cường phối hợp liên ngành và tăng cường vai trò của địa phương
a) Rà soát, bổ sung, hoàn thiện pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS bảo đảm phù hợp thực tế và đồng bộ với hệ thống pháp luật có liên quan để thực hiện các mục tiêu cụ thể được đặt ra.
b) Các Bộ, ngành, địa phương, Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các cơ quan đoàn thể và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp phối hợp xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai hiệu quả các hoạt động liên quan về phòng, chống HIV/AIDS. Tuyên truyền, vận động, giảm kỳ thị phân biệt đối xử với người nhiễm HIV. Lồng ghép, phối hợp hoạt động phòng, chống HIV/AIDS với các phong trào xây dựng đời sống văn hóa nông thôn mới, an sinh, xã hội, chương trình xóa đói giảm nghèo, giới thiệu việc làm, tạo sinh kế và các hỗ trợ khác cho người nhiễm HIV.
c) Cập nhật và chỉnh sửa các hướng dẫn chuyên môn, quy trình kỹ thuật về phòng, chống HIV/AIDS bảo đảm phù hợp với khuyến cáo của quốc tế và phù hợp với thực tiễn.
2. Tăng cường phát hiện người nhiễm HIV, giám sát dịch HIV/AIDS
a) Chú trọng phát hiện nhiễm HIV trong nhóm người có nguy cơ cao. Đa dạng hóa các biện pháp phát hiện nhiễm HIV tại cộng đồng và cơ sở y tế. Áp dụng kỹ thuật chẩn đoán nhiễm mới HIV để phát hiện, khoanh vùng ổ dịch kịp thời nhằm ngăn ngừa sự lây lan của dịch. Đồng thời kết nối sớm người nhiễm HIV được điều trị bằng thuốc kháng HIV.
b) Thực hiện các hoạt động ước tính quần thể người có nguy cơ lây nhiễm HIV nhằm ước tính, dự báo tình hình dịch HIV/AIDS và chủ động kiểm soát dịch.
c) Tăng cường huy động cộng đồng, các cơ quan, tổ chức, cá nhân, y tế tư nhân tham gia triển khai các biện pháp phát hiện sớm người nhiễm HIV.
3. Dự phòng lây nhiễm HIV và truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng
a) Nghiên cứu triển khai đa dạng mô hình cung cấp dịch vụ điều trị dự phòng trước phơi nhiễm với HIV (PrEP), nghiên cứu và triển khai phương pháp mới, công nghệ mới về điều trị PrEP.
b) Truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về phòng, chống HIV/AIDS, tập trung vào nhóm có nguy cơ cao nhiễm HIV, người dưới 18 tuổi và người lao động nhằm tăng cường khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS; Đẩy mạnh hoạt động truyền thông số, truyền thông trực tuyến qua mạng xã hội, tổ chức các chiến dịch truyền thông theo các chủ đề.
c) Triển khai cung cấp bao cao su và bơm kim tiêm sạch miễn phí thông qua chương trình dự án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật hoặc bán thương mại theo quy định của pháp luật về quản lý thiết bị y tế, đồng thời hướng dẫn sử dụng cho các đối tượng sau: người nhiễm HIV; người sử dụng ma túy; người bán dâm; người có quan hệ tình dục đồng giới; người chuyển đổi giới tính; vợ, chồng và thành viên khác của gia đình sống chung với người nhiễm HIV, vợ, chồng của người sử dụng ma túy, người bán dâm, người có quan hệ tình dục đồng giới, người chuyển đổi giới tính; người có quan hệ tình dục với người nhiễm HIV; người mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục; người di biến động; phụ nữ mang thai; phạm nhân, người bị tạm giam, trại viên cơ sở giáo dục bắt buộc, học sinh trường giáo dưỡng, học viên cơ sở cai nghiện ma túy; người dân tộc thiểu số, người sống ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, khu vực biên giới, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người từ đủ 13 tuổi đến dưới 30 tuổi.
d) Tăng cường sự tham gia của y tế tư nhân trong cung cấp các dịch vụ can thiệp giảm tác hại.
đ) Triển khai các can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV phù hợp trong trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện ma túy.
4. Tăng cường điều trị HIV/AIDS
a) Đẩy mạnh xây dựng và cập nhật các gói dịch vụ điều trị HIV/AIDS bằng thuốc ARV. Tăng cường quản lý, theo dõi và hỗ trợ tuân thủ điều trị cho người bệnh.
b) Tăng cường tư vấn và xét nghiệm HIV cho phụ nữ mang thai, điều trị ngay thuốc kháng HIV cho phụ nữ mang thai nhiễm HIV để phòng lây truyền HIV cho con; chẩn đoán sớm và điều trị bằng thuốc ARV cho tất cả trẻ sinh ra từ bà mẹ nhiễm HIV để dự phòng lây truyền HIV từ mẹ.
c) Tăng cường phát hiện và điều trị các bệnh đồng nhiễm, các bệnh không lây nhiễm ở người nhiễm HIV.
5. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong phòng, chống HIV/AIDS
a) Cập nhật, chỉnh sửa hệ thống theo dõi, giám sát dữ liệu về phòng, chống HIV/AIDS để bảo đảm phù hợp với tình hình thực tế.
b) Tăng cường sử dụng bệnh án điện tử trong điều trị dự phòng trước phơi nhiễm với HIV (PrEP) và điều trị HIV/AIDS.
c) Xây dựng, cập nhật hệ thống dữ liệu phòng, chống HIV/AIDS có khả năng kết nối liên thông với cơ sở dữ liệu quốc gia về y tế và cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
d) Nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong dự báo, cảnh báo, giám sát, theo dõi, đánh giá dịch bệnh và các hoạt động tư vấn, dự phòng, xét nghiệm, điều trị HIV/AIDS.
6. Bảo đảm tài chính cho công tác phòng, chống HIV/AIDS
a) Huy động và đa dạng hóa các nguồn ngân sách cho phòng, chống HIV/AIDS phù hợp với tình hình thực tiễn. Tối ưu hóa, phân bổ và sử dụng hiệu quả ngân sách cho phòng, chống HIV/AIDS.
b) Mở rộng chi trả từ nguồn Quỹ Bảo hiểm y tế cho các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS theo lộ trình, đối tượng ưu tiên và phù hợp với khả năng cân đối của Quỹ Bảo hiểm y tế và mức đóng. Trong đó, tập trung nghiên cứu, đề xuất: mở rộng chi trả từ Quỹ Bảo hiểm y tế cho xét nghiệm sàng lọc HIV, điều trị PrEP; mở rộng danh mục thuốc ARV do Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả.
c) Xã hội hóa các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS để tăng khả năng chi trả từ phía người sử dụng. Nghiên cứu, đề xuất phương án tài chính bền vững, phù hợp nhằm duy trì và tăng cường sự tham gia của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống HIV/AIDS.
d) Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động đầu tư của tư nhân, hợp tác công tư trong lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS theo quy định của pháp luật.
7. Bảo đảm nguồn nhân lực phục vụ công tác phòng, chống HIV/AIDS
a) Bảo đảm chất lượng nguồn nhân lực cho công tác phòng, chống HIV/AIDS từ tuyến Trung ương đến Sở Y tế, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh, thành phố, các đơn vị y tế trực thuộc Sở Y tế và các Trạm Y tế xã, phường, đặc khu.
b) Hỗ trợ kỹ thuật tăng cường năng lực phòng, chống HIV/AIDS cho cán bộ y tế tại các tuyến.
c) Đào tạo, tập huấn, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác phòng, chống HIV/AIDS tại các tuyến.
8. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế
a) Ưu tiên nghiên cứu về kỹ thuật mới, thuốc mới trong phòng, chống HIV/AIDS.
b) Thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế trong phòng, chống HIV/AIDS; tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế, song phương, đa phương, tổ chức phi chính phủ để huy động sự hỗ trợ về mặt tài chính, chuyển giao công nghệ và khoa học kỹ thuật tiên tiến trong phòng, chống HIV/AIDS.
c) Thúc đẩy, mở rộng hoạt động hợp tác nghiên cứu với các trường đại học trong nước và quốc tế nhằm đa dạng hóa chủ đề nghiên cứu khoa học và nhân sự cho nghiên cứu, cung cấp bằng chứng cho xây dựng chính sách bảo đảm tính khoa học và uy tín trong lĩnh vực nghiên cứu chuyên môn.
IV. Đề xuất, kiến nghị (nêu cụ thể nội dung đề xuất và cơ quan đề xuất)
1. Với Ban Bí thư Trung ương Đảng và các cấp ủy Đảng
Tăng cường công tác chỉ đạo của các cấp ủy đảng triển khai thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 6/7/2021 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS, tiến tới chấm dứt dịch bệnh AIDS tại Việt Nam trước năm 2030.
2. Với Quốc hội và Chính phủ
- Tăng đầu tư cho công tác phòng, chống HIV/AIDS để đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đã đặt ra. Sử dụng ngân sách quốc gia cho cung ứng thuốc điều trị ARV để đảm bảo duy trì điều trị liên tục cho bệnh nhân.
- Tăng cường công tác giám sát của Quốc hội, Chính phủ và Hội đồng nhân dân các cấp đối với việc thực hiện các chính sách của Quốc Hội, Chính phủ đối công tác phòng, chống HIV/AIDS tại địa phương.
3. Với các Bộ, ngành, đoàn thể
- Hoàn thiện các văn bản hướng dẫn theo quy định của Luật phòng, chống HIV/AIDS sửa đổi, bổ sung.
- Triển khai và phối hợp thực hiện Chiến lược Quốc gia chấm dứt dịch AIDS vào năm 2030.
- Đưa công tác phòng, chống HIV/AIDS trong Chiến lược, Kế hoạch dài hạn, ngắn hạn và hằng năm của Bộ, ngành, đoàn thể.
- Tổ chức tuyên truyền và triển khai hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại cơ quan, trụ sở làm việc tại Trung ương và địa phương.
4. Với Ủy ban nhân dân các cấp
- Đưa mục tiêu, chỉ tiêu công tác phòng, chống HIV/AIDS vào Chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương.
- Ưu tiên đầu tư cho công tác phòng, chống HIV/AIDS từ nguồn ngân sách địa phương, tập trung đầu tư kinh phí và nhân lực cho các khu vực, địa bàn có nguy cơ lây nhiễm HIV cao.
- Sắp xếp bố trí nhân lực cho công tác phòng, chống HIV/AIDS, thực hiện đầy đủ các cơ chế chính sách hỗ trợ cho nhân sự thực hiện phòng, chống HIV/AIDS theo quy định.
- Tăng cường giám sát, kiểm tra công tác phòng, chống HIV/AIDS tại các tuyến cơ sở.
| Nơi nhận:
|
T/M BAN THƯỜNG VỤ
BÍ THƯ
Đào Hồng Lan |
[1] Công văn số 9033/BYT-UBQG50 ngày 25 tháng 10 năm 2021 về Triển khai Tháng Hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS năm 2021
[2] Công văn số 6059/BYT-AIDS ngày 26 tháng 10 năm 2022 của Bộ Y tế về Triển khai Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS năm 2022
[3] Công văn số 6875/BYT-UBQG ngày 26/10/2023 về việc triển khai Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS năm 2023
[4] Công văn số 6678/BYT-UBQG50 ngày 30/10/2024 về việc triển khai Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS năm 2024
[5] Kế hoạch số 1395/KH-BYT ngày 06/10/2025 về Tổ chức hưởng ứng 35 năm Việt Nam ứng phó với HIV, Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS năm 2025 và Ngày Thế giới phòng, chống HIV/AIDS
[6] Kế hoạch số 369/KH-BCĐ ngày 19/01/2026 của Bộ Quốc phòng về triển khai các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS và phòng, chống ma túy, mại dâm trong quân đội năm 2026
Kế hoạch số 684/KH-BCA-H06 ngày 17/11/2025 của Bộ Công an về Kế hoạch hưởng ứng 35 năm Việt Nam ứng phó với HIV/AIDS, Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS năm 2025 và Ngày Thế giới phòng, chống AIDS 1/12/2025 trong Công an nhân dân.
Báo cáo số 3044/BC-BDTTTG ngày 12/12/2025 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo về Báo cáo hưởng ứng 35 năm Việt Nam ứng phó với HIV/AIDS, Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS năm 2025 và Ngày Thế giới phòng, chống AIDS 1/12.
Công văn số 6891/BGDĐT-HSSV ngày 28/10/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hưởng ứng 35 năm Việt Nam ứng phó với HIV/AIDS, Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS năm 2025 và Ngày Thế giới phòng, chống AIDS 1/12
[7] Nghị định số 109/2021/NĐ-CP ngày 08/12/2021 quy định cơ sở y tế đủ điều kiện xác định tình trạng nghiện ma túy và hồ sơ, trình tự; thủ tục xác định tình trạng nghiện ma túy
[8] Nghị định số 63/2021/NĐ-CP ngày 30/6/2021 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)
[9] Nghị định số 141/2024/NĐ-CP ngày 28/10/2024 Quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)
[10] Quyết định số 89/QĐ-TTg ngày 23/01/2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Quyết định số 24/2023/QĐ-TTg ngày 22/9/2023 của Thủ tướng Chính phủ quy định điều kiện xác định người bị nhiễm, người phơi nhiễm với HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp;
[11] (1) Thông tư 09/2021/TT-BYT ngày 30/6/2021 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về quy trình, thời điểm, số lần xét nghiệm HIV cho phụ nữ mang thai; chăm sóc, điều trị đối với phụ nữ nhiễm HIV trong thời kỳ mang thai, khi sinh con, cho con bú và biện pháp nhằm giảm lây nhiễm HIV từ mẹ sang con
(2) Thông tư 04/2023/TT-BYT ngày 28/02/2023 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc quy định hình thức, quy trình thông báo kết quả xét nghiệm HIV dương tính và tiếp cận thông tin người nhiễm HIV.
(3) Thông tư 05/2023/TT-BYT ngày 10/3/2023 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc quy định chế độ báo cáo định kỳ hoạt động phòng, chống HIV/AIDS.
(4) Thông tư 07/2023/TT-BYT ngày 04/4/2023 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn quy trình và phương pháp giám sát dịch tễ học HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục
(5) Thông tư số 40/2024/TT - BYT ngày 22/11/2024 quy định đặc điểm kinh tế - kỹ thuật dịch vụ y tế dự phòng thuộc lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS.
(6) Thông tư 46/2024/TT-BYT ngày 26/12/2024 quy định định mức kinh tế - kỹ thuật dịch vụ y tế dự phòng về lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS tại cơ sở y tế công lập.
(7) Thông tư số 26/TT- BYT ngày 31/10/2024 quy định đặc điểm kinh tế - kỹ thuật dịch vụ điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện tại các đơn vị sự nghiệp công lập.
(8) Thông tư số 10/2025/TT-BYT ngày 09/5/2025 của Bộ trưởng Bộ Y tế bãi bỏ toàn bộ hoặc một phần các văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành, liên tịch ban hành về phòng, chống HIV/AIDS
[12] Quyết định số 1785/QĐ-BYT ngày 25/6/2024 Bộ trưởng Bộ Y tế về việc kiện toàn Ban Chỉ đạo công tác phòng, chống AIDS, ma tuý, mại dâm của Bộ Y tế
[13] Công văn số 2562/BYT-AIDS ngày 15/5/2024 của Bộ Y tế gửi Ban Chỉ đạo phòng, chống AIDS, ma tuý, mại dâm các Bộ, ngành và các địa phương về việc tổ chức triển khai Tháng cao điểm dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con năm 2024
[14] Công văn số 3092/BYT-AIDS ngày 6/6/2024 của Bộ Y tế về việc triển khai Tháng hành động phòng, chống ma túy năm 2024 trong ngành Y tế
[15] Quyết định số 792/QĐ-BYT ngày 31/3/2022 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành “Kế hoạch triển khai thí điểm điều trị dự phòng trước phơi nhiễm với HIV từ xa”
[16] Quyết định số 268/QĐ-AIDS ngày 22/12/2022 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc Ban hành Kế hoạch Cải cách hành chính và kiểm soát thủ tục hành chính của Cục.
[17] Kế hoạch số 2129/2021/KH-BYT ngày 21/12/2021 của Bộ Y tế về việc Tăng cường sự tham gia của khu vực tư nhân trong đầu tư và cung cấp dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn 2021-2025
[18] Kế hoạch số 33/KH-AIDS ngày 30/01/2024 về kiểm tra giám sát việc thi hành chính sách pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS tại các tỉnh, thành phố
[19] Quyết định số 07/QĐ-AIDS ngày 16/01/2024 của Cục trưởng Cục Phòng, chống HIV về Kế hoạch cải cách hành chính của Cục Phòng, chống HIV/AIDS năm 2024
[20] Quyết định số 612/QĐ-BYT ngày 14/3/2024 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Kế hoạch phòng, chống HIV/AIDS năm 2024
[21] Kế hoạch số 188/KH-AIDS ngày 03/7/2024 của Cục Phòng, chống HIV/AIDS về việc Nâng cao chất lượng dich vụ công trực tuyến giai đoạn 2024-2025
[22] Quyết định số 138/QĐ-AIDS ngày 03/7/2024 của Cục Phòng, chống HIV/AIDS về việc thành lập Ban Chỉ đạo công tác Cải cách hành chính
[23] Quyết định số 3286/QĐ-BYT ngày 05/11/2024 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Kế hoạch điều trị Viêm gan vi rút C ở người nhiễm HIV và người có hành vi nguy cơ cao giai đoạn 2024-2026
[24] Quyết định số 286/QĐ-BYT ngày 22/1/2025 phê duyệt Kế hoạch hành động thực hiện giải pháp đáp ứng y tế công cộng với chùm ca nhiễm HIV tại Việt Nam, giai đoạn 2025-2030.
[25] Quyết định số 64/QĐ-AIDS ngày 24/04/2024 về hướng dẫn địa bàn, đối tượng, phương pháp chọn mẫu và quy trình tổ chức triển khai giám sát trọng điểm; (3) Công văn số 1029/AIDS-GSXN ngày 28/08/2024 của Cục Phòng, chống HIV/AIDS về cập nhật Quy trình chuẩn triển khai hoạt động giám sát trọng điểm HIV/Giang mai lồng ghép hành vi năm 2024
[26] Công văn số 1046/AIDS-GSXN ngày 04/09/2024 của Cục Phòng, chống HIV/AIDS về việc hướng dẫn phân tích báo cáo tình hình dịch HIV và kết quả hoạt động phòng, chống HIV/AIDS;
Công văn số 1265/AIDS-GSXN ngày 23/10/2024 của Cục Phòng, chống HIV/AIDS về hướng dẫn triển khai điều tra lập bản đồ tụ điểm và ước tính số lượng quần thể nguy cơ;
Công văn số 1280/AIDS-GSXN ngày 28/10/2024 của Cục Phòng, chống HIV/AIDS về việc Hướng dẫn ước tính số lượng quần thể nguy cơ thông qua phương pháp thống kê số lượng người dùng ứng dụng mạng xã hội
[27] Quyết định số 28/QĐ-AIDS ngày 01/3/2024 của Cục trưởng Cục Phòng, chống HIV/AIDS về việc Hướng dẫn xây dựng mô hình “Đội truyền thông phòng, chống HIV/AIDS cho sinh viên trong các trường đại học”
[28] Quyết định số 1246/QĐ-TTg ngày 14/8/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Quốc gia chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030
[29] Quyết định số 4153/QĐ-BYT ngày 31/12/2024 của Bộ Y tế về Kế hoạch đánh giá thực hiện Chiến lược Quóc gia chấm dứt dịch bệnh AIDS đến năm 2030 (giai đoạn 2021-2024).
[30] Báo cáo đánh giá giữa kỳ Chiến lược quốc gia chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030 (giai đoạn 2021-2024).
[31] Báo cáo nguồn lực tài chính cho công tác phòng, chống HIV/AIDS và cung ứng thuốc, sinh phẩm HIV giai đoạn 2020-2024 và định hướng đến năm 2030, UNAIDS, 2025.
[32] Mục tiêu 95 thứ nhất: tỷ lệ người nhiễm HIV trong cộng đồng biết tình trạng HIV của mình đạt 95%; Mục tiêu 95 thứ hai: Tỷ lệ người nhiễm HIV biết tình trạng nhiễm HIV của mình được điều trị thuốc kháng vi rút HIV đạt 95%; Mục tiêu 95 thứ ba: Tỷ lệ người được điều trị thuốc kháng vi rút HIV có tải lượng vi rút dưới ngưỡng ức chế đạt 95%.
[33] Nguồn số liệu: Giám sát ca bệnh (Đã loại trừ 5% trùng lặp)
[34] Tỷ lệ người có hành vi nguy cơ cao được xét nghiệm HIV lần lượt ở các nhóm là: NCMT 63%, phụ nữ bán dâm 57,5% và MSM là 79,3% (chỉ tiêu là 70% năm 2025); Tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con là 2,8% (chỉ tiêu là dưới 2% vào năm 2030) ;87,3% người nhiễm HIV trong cộng đồng biết tình trạng HIV của mình (chỉ tiêu 90% năm 2025) ; 85,5% bệnh nhân đồng nhiễm HIV/Lao được điều trị đồng thời cả ARV và Lao (chỉ tiêu 92% vào năm 2025); 58/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có hệ thống thu thập số liệu đạt chất lượng để theo dõi tình hình dịch và đánh giá hiệu quả các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS (chỉ tiêu 100%); 96% người nhiễm HIV có thẻ bảo hiểm y tế (chỉ tiêu phấn đấu 100%).
[35] Năm 2021 là 13.223; Năm 2022 là 11.037 ca; Năm 2023 là 13.445 ca và năm 2024 là 13.551 ca.
[36] Báo cáo Quý 2/2025 theo Thông tư số 05/2023/TT-BYT ngày 10/3/2023 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định Chế độ báo cáo định kỳ hoạt động phòng, chống HIV/AIDS.
[37] Theo Khoản 13 Điều 1 Luật số 71/2020/QH14 ngày 16/11/2020: Nhà nước cấp miễn phí thuốc kháng HIV cho các đối tượng sau đây: a) Người bị phơi nhiễm với HIV, bị nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp; b) Người bị phơi nhiễm với HIV, bị nhiễm HIV do rủi ro của kỹ thuật y tế;
c) Người bị phơi nhiễm với HIV, bị nhiễm HIV do tham gia cứu nạn; d) Phụ nữ và trẻ em có chỉ định điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con; đ) Trẻ em dưới 06 tuổi nhiễm HIV; e) Người nhiễm HIV trong cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện ma túy, cơ sở bảo trợ xã hội, trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giam giữ khác”.
[38] Theo Khoản 10, Điều 1 Luật số 51/2024/QH15 ngày 27/11/2024: 3. Nhóm do nhân sách nhà nước đóng bao gồm: o) Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số thuộc hộ gia đình cận nghèo đang cư trú tại xã, thôn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; người dân tộc thiểu số đang cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; người đang cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo;
[39] Theo Điều 4, Luật số 64/2006/QH11 ngày 29/6/2006: Điều 4. Quyền và nghĩa vụ của người nhiễm HIV: 1. Người nhiễm HIV có các quyền sau đây: a) Sống hòa nhập với cộng đồng và xã hội; b) Được điều trị và chăm sóc sức khoẻ; c) Học văn hoá, học nghề, làm việc; d) Được giữ bí mật riêng tư liên quan đến HIV/AIDS; đ) Từ chối khám bệnh, chữa bệnh khi đang điều trị bệnh AIDS trong giai đoạn cuối; e) Các quyền khác theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
[40] Theo Điều 35, Luật số 64/2006/QH11 ngày 29/6/2006: Điều 35: Phòng, chống lây nhiễm HIV từ mẹ sang con: 1. Phụ nữ mang thai tự nguyện xét nghiệm HIV được miễn phí; 2. Phụ nữ nhiễm HIV được tạo điều kiện tiếp cận các biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con; 3. Phụ nữ nhiễm HIV trong thời kỳ mang thai, cho con bú được tư vấn về phòng, chống HIV/AIDS; 4. Cơ sở y tế có trách nhiệm theo dõi, điều trị và thực hiện các biện pháp nhằm giảm sự lây nhiễm HIV từ mẹ sang con cho phụ nữ nhiễm HIV trong thời kỳ mang thai; 5. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định cụ thể việc chăm sóc và điều trị đối với phụ nữ nhiễm HIV trong thời kỳ mang thai, người mẹ nhiễm HIV khi sinh con và các biện pháp nhằm giảm lây nhiễm HIV từ mẹ sang con.
[41] Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ: Sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
[42] Nghị quyết số 214/NQ-CP ngày 23/7/2025 của Chính phủ: Ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ về thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện.